Thiệt là, có ai đi xa mà không nhớ cái mùi rơm rạ cháy xém quyện với thịt cá lóc nướng trui thơm lựng cả một góc đồng?
Từ cái thưở chân còn lấm phèn, theo người lớn đi tát đìa, món cá lóc nướng trui đã thành hình trong ký ức. Con cá đồng mập ú, xiên vội que tre, vùi trong rơm khô rồi nổi lửa. Khói bay cay mắt mà thơm lạ lùng. Chỉ vậy thôi mà thành nỗi nhớ, thành món đặc sản đãi khách quý, để ai đi xa cũng đau đáu một hương vị thiệt thà của đất, của người miền Tây.
Món quà của đất bưng biền
Cá lóc nướng trui ra đời từ những buổi làm đồng vất vả của người nông dân Nam Bộ. Sau khi ngăn lạch, tát đìa, cá bắt lên còn tươi rói, chỉ cần rửa sạch dưới mương, chẳng cần mần bụng hay đánh vảy. Cái hay là ở chỗ đó, ở cái sự mộc mạc, chân phương như tính cách người miệt vườn.
Hồi đó cá lóc đồng nhiều vô kể. Con cá tuy không to như cá nuôi bây giờ, chỉ vài trăm gram tới nửa ký là cùng, nhưng thịt nó săn chắc, ngọt thơm chứ không bở. Con nào tới mùa mưa bụng lại ôm một bọc trứng béo ngậy. Vậy mà giờ đây, cá đồng khan hiếm, người ta đành dùng cá nuôi thay thế, cái vị ngọt thơm tự nhiên dường như cũng vơi đi ít nhiều.

Xem thêm: Vị quê nhà trong tô canh chua cá rô đồng bông so đũa
Mần con cá cho đúng điệu
Chế biến món này coi vậy mà không dễ. Phải lựa cây tre còn tươi, vót nhọn rồi xiên dọc từ miệng tới đuôi cá, vậy thì khi nướng tre không cháy, lại giữ được nước ngọt trong mình cá. Đoạn, người ta cắm đầu cá xuống đất, phủ rơm lên rồi châm lửa.
Canh lửa là cả một nghệ thuật. Phải chất rơm làm sao cho vừa đủ, lửa cháy hết là cá cũng vừa chín tới. Ít lửa thì cá sượng, nhiều lửa thì cá khô khốc, mất ngon. Khi lớp vảy ngoài cháy đen giòn cũng là lúc mùi thơm nức mũi lan toả. Người ta bày cá ra tàu lá chuối xanh mướt, cạo nhẹ lớp vảy cháy để lộ ra làn da vàng ươm và thớ thịt trắng ngần, khói bốc lên nghi ngút.

Bây giờ người ta hay nướng than, tiện thì có tiện, mà cái hồn khói rơm dung dị, cái mùi thơm đồng gió nội dường như đã mất đi đâu một nửa.
Ăn sao cho đã cái thèm
Ăn cá lóc nướng trui mà thiếu rổ rau sống tươi non thì coi như chưa trọn vẹn. Thú vị nhất là những loại rau vườn nhà, rau dại mọc ngoài bờ ruộng:
- Các loại rau thơm quen thuộc như xà lách, húng quế, diếp cá.
- Thêm vào đó là lá cóc, lá sộp, quế vị, lá cách, bông súng, bông điên điển… tuỳ mùa, tuỳ xứ.
- Chuối chát xắt mỏng, khế chua thái lát, dưa leo và giá sống giòn giòn.
Khi ăn, người ta trải một miếng bánh tráng mỏng, gắp một ít bún trắng, thêm các loại rau sống, rồi gỡ một miếng thịt cá trắng phau đặt vào giữa. Cuốn lại cho chặt tay, chấm vào chén nước mắm nêm đậm đà hay chén mắm me chua ngọt cay ahy. Vị ngọt của cá, vị thanh mát của rau, vị đậm đà của nước chấm quyện vào nhau, đánh thức mọi giác quan. Bởi vậy, miếng cá lóc nướng trui đâu chỉ ngọt vị cá, mà còn mặn giọt mồ hôi, thơm mùi ký ức và đậm đà cái tình của người miệt vườn Nam Bộ.

Có bao giờ giữa phố thị bộn bề, bạn chợt thèm da diết cái mùi khói rơm cay nồng, cái vị ngọt lịm của con cá lóc nướng trui dân dã? Món ăn không chỉ để no bụng, mà còn là cả một bầu trời ký ức, là hương vị của đất, của quê nhà miền Tây chan chứa nghĩa tình. Dẫu đi đâu về đâu, mùi khói rơm năm ấy vẫn vương vấn trong tim, nhắc ta về một miền quê chân chất, nơi có những bữa cơm đạm bạc mà ấm áp tình người.
